Hỏi & Đáp 3.0

Hỏi & Đáp 3.0

Mời tham quan phiên bản 3.0 của Hỏi & Đáp để khám phá những chức năng mới lạ và hấp dẫn.
Tham Quan

Theo Hỏi & Đáp trên Facebook

Mời bạn cùng tham gia theo Hỏi & Đáp trên Facebook để được thông báo khi Hỏi & Đáp 3.0 đi vào hoạt động
Thích
Kiểu Gõ:  TELEX VNI VIQR OFF
Offline
5
Điểm
Đạo Cao Đài
Tại sao đạo Cao Đài thờ con mắt (Thiên nhãn)
+ Cách đây hơn 7 năm
+ Lượt xem : 4,187
Trả lời (23)
Hiển thị theo
Moderator

Offline
Sưu tầm: Ðạo Cao Ðài cho rằng mọi tôn giáo trên thế gian này đều có cùng MỘT NGUYÊN LÝ, và đều do Ðức Thượng Ðế lập ra ở nhiều nơi khác nhau, vào những thời kỳ khác nhau. Vì sự khác biệt về hình thức giữa các tôn giáo mà nhân loại chia rẻ, hiềm khích nhau, nên Ðức Chí Tôn mới lập ra đạo Cao Ðài để qui nguyên hợp nhứt các tôn giáo. Nói cách khác, nguyên lý của đạo Cao Ðài là "VẠN GIÁO NHẤT LÝ". Ngoài ra, Ðức Chí Tôn còn dạy: "Thầy là các con, các con Thầy," nghĩa là từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhân loại chi chi sự sống đều có thọ một điểm linh quang của Ðức Chí Tôn, vì thế mới có câu: "Thiên địa vạn vật dồng nhất thế". Con là một thiêng liêng tại thế, Cùng với Thầy đồng thể linh quang. Khoa học hiện đại cũng đã tìm thấy rằng từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, đến nhân loại, tất cả đều có cùng một cầu thể gọi là linh quang tron nguyên tử tức là dương đi65n tử (proton) và âm điện tử (eletron). Linh quang này có một đời sống và chuyểng động không ngừng (mặc dầu bề ngoài của vật chất dường như bất động). Ðức Cao Ðài dạy tho thờ Thượng Ðế bằng biểu tượng con mất trái, với ý nghĩa "Thần cư tại nhân nghĩa là Thần ở trong con mắt và Thần là Trời: Nhãn thị chủ tâm Lưỡng quan chủ tể Quang thị thần Thần thị Thiên Thiên giả ngã giả. Nghĩa là: Mắt là chủ của lòng Hai luồng ánh sáng (âm quang và dương quang) là chủ tể. Ánh sáng là Thần Thần là Trời Trời là Ta vậy. Con mắt bên trái tượng trưng cho dương. Ðạo Cao Ðài qui nhất ngũ chi Ðại Ðạo nên triết lý của những nền tôn giáo chích thức được tìm thấy trong triết lý đạo Cao Ðài. 1. Nhân đạo và Thần Ðạo: Nhân, trí, dũng, tam can ngũ thường, tam tùng tứ đức, tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ. 2. Thánh đạo: Lòng bác ái, đức khoan dung, đức khiêm nhượng, đức vị tha. 3. Tiên đạo: Thuyết vô vi, tam bưử, ngũ hành, tu tâm luyện tánh để thoát tục siêu phàm. 4. Phật đạo: Luật nhân quả luân hồi, tứ diệu đế, bát chánh đạo, thập nhị nhân duyên, từ bi bác ái, tam qui ngũ giới, minh tâm kiến tánh. Trên thực tế: 1. Về phương diện luân lý: đạo Cao Ðài dạy con người biết bổn phận đối với mình, với gia đình, với xã hội và với nhân loại. 2. Về phương diện triết lý: đạo Cao Ðài dạy người đời từ bỏ say mê vật chất như dang vọng giàu sang để tu tâm luyện tánh và tìm thấy sự bình thản cho linh hồn. 3. Về phương diện thời phượng: đạo dạy thờ phượng Ðức Thượng Ðế, các Ðấng Thiêng Liêng, tổ tiên. 4. Về phương diện tâm linh: đạo Cao Ðài xác nhận sự hiện hữu của linh hồn và tâm hồn. Linh hồn còn được người đời gọi là lương tâm, là một phần chơn linh của Thượng Ðế, luôn luôn bất diệt chí thánh chí thiện có nhiệm vụ dạy dỗ dìu dắt tâm hồn và xác thân hành động theo lẽ phải. Tâm hồn có nhiệm vụ nghe theo sự hướng dẫn của chơn linh điều khiển xác thân sống theo thiên lý, tiến hoá theo luật luân hồi nhân quả. 5. Về phương diện tu luyện: những đạo hữu đã vên bề nhơn đạo, không vướng bận thế tình sẽ được thọ chơn pháp tham thiền nhập định, tu luyện đạo cơ giải thoát.
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Đôi dòng lịch sử : Thánh tượng Thiên Nhãn của đạo Cao Đài hiện ra lần đầu cho người đệ tử đầu tiên thấy được là Ngài Ngô Minh Chiêu tại Dương Đông , Phú Quốc vào năm 1921. Ngài Ngô trực nhận đây là mặc khải của Đức Thượng Đế để chọn tượng thờ cho Đạo. Ngài họa lại Thiên Nhãn là hình con mắt trái rất uy nghiêm để tôn thờ và ít lâu sau truyền lại cho đồng đạo. Ngày nay thánh tượng Thiên Nhãn là tượng thờ tối cao trong toàn đạo Cao Đài, tại các thánh thất cũng như tại tư gia tín hữu. Ý nghĩa : Đức Cao Đài dạy rằngThiên Nhãn là "lý mầu nhiệm" của Đạo, buổi ban sơ môn đệ của Ngài khó hiểu hết ý nghĩa. Tuy nhiên, dần dần theo sự xiển dương sâu rộng của nền giáo lý công truyền và tâm truyền, người tín hữu Cao Đài có thể suy nghiệm các nghĩa lý căn bản, phổ quát của Thiên Nhãn như sau : 1.Nghĩa tôn giáo : Thờ một con mắt là thờ độc thần ( monothéiste ) , ám chỉ đạo Cao Đài là tôn giáo độc thần khác với các tín ngưỡng đa thần thời trung cổ, đánh dấu mức độ tiến hóa ngày càng cao hơn trong lịch sử tôn giáo thế giới. Vượt lên trên các tín ngưỡng sơ khai thờ vật tổ và các tín ngưỡng thờ đa thần, có các tôn giáo lớn thờ độc thần trước đây là Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo.[1] Trong ý nghĩa ấy, thời kỳ này đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn biểu trưng cho Thượng Đế, vị Thần Tối Cao duy nhất của càn khôn vũ trụ. Vì Thượng Đế là đấng vô hình, đấng Cha chung của mọi giống dân, không thể dùng vật tượng hay nhơn tượng để thờ, nhưng biểu tượng Thiên Nhãn khả dĩ tượng trưng cho một giá trị phổ quát đại đồng nhứt và thể hiện được sức mạnh tinh thần của mọi chủ thể. 2. Nghĩa giáo lý công truyền : Thiên Nhãn là biểu tượng của " Tâm ", vì " Nhãn thị chủ tâm " [2]. Mà hướng nội, hướng tâm hay qui tâm, theo giáo lý Tam giáo là đường lối tu tiến của con người vì "Tâm" là gốc, là chủ tể [3], nguyên nhân của tất cả các nguyên nhân; "Tâm " là Đạo, là Chơn ngã ; giáo lý Phật giáo có câu : " Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức " Kinh Đại Thừa Chơn Giáo [4], có viết :" Trong trời đất có cái lý nhứt định thanh quang là Thái Cực, làm "trung tâm điểm" cho vũ trụ càn khôn muôn nloài vạn vật. Cái "lý độc nhứt " ấy toàn tri toàn năng biến hóa vô cùng vô tận, dưỡng dục cả sanh linh, bảo tồn cả vạn loại. . . Còn với nhân loại, cái " tấm lòng " lại là trung tâm của con người . . . Cái trung tâm đạo ấy rất mầu nhiệm thông linh làm cho con người được an vui trên con đường tiến hóa. Vậy người phải lấy cái tâm làm chủ tể. " Theo đạo học, Thiên Nhãn chính là Thái Cực vậy 3. Nghĩa giáo lý tâm truyền : Thiên Nhãn là biểu tượng của "thần", vì "Thần cư tại Nhãn " [5]. Thần là sức mạnh siêu nhiên của chủ thể. Đối với Thượng Đế, Thần hay "Chơn thần" là quyền năng tối thượng của Ngài tác động lên toàn thể vũ trụ vạn vật. Trong kinh Đại Thừa Chơn Giáo Ngài dạy : " Tại sao Thiên Nhãn là Thầy ? . . . Nhãn là cửa trái tim của con người. Trái tim ấy là Tạo hóa, tức là Thần, mà Thần là cái Lý Hư vô. Lý Hư vô ấy là Trời vậy. " [6] · Đối với con người, Thần thể hiện sức mạnh tinh thần khi con người đạt đến khả năng tập trung cao nhất của Tâm. · Về Đạo pháp, Thần là một trong ba món báu ( Tam bửu ) của Tiểu thiên địa nhân thân : Tinh- Khí- Thần. Sự tu luyện theo Tiên đạo là hàm dưỡng đầy đủ và hiệp nhứt được Tam bửu mới đắc đạo. Từ khi mới khai Đạo, Đức Cao Đài Giáo Chủ đã phán rằng " Lập Tam kỳ phổ độ nầy, duy Thầy cho ""Thần" hiệp "Tinh –Khí " đặng hiệp đủ "Tam bửu" là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập thánh" [7]. Vậy Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thờ Thiên Nhãn là thờ Thượng Đề hữu ngã và là thờ Chơn Thần của vũ trụ tức Thượng Đế vô ngã, là Bản nguyên của vũ trụ vạn vật, mà cũng là cứu cánh của chúng sanh.
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
rất cảm ơn bạn Acer đã có bài viết hay về câu hỏi này. Làm mình biết thêm về tôn giáo Cao Đài. Nhân đây cho mình hỏi về lịch sử và xuất hiẹn ở VN khi nào ???
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
cảm ơn bạn mình cũng dốt lịch sử lắm nhân dịp này phải học hỏi vậy nói thực minh chưa bao giờ nghe thấy đạo Cao Đài bao giờ
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
ban haqy vao googlema tim nha
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Đạo Cao Đài, tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một trong những tôn giáo phát triển ở miền Nam Việt Nam, được hình thành vào thập niên 1920, khi phong trào chống Pháp bị đàn áp. Đạo Cao Đài là dung hợp một số tôn giáo đã có để lập ra một tôn giáo mới. Đạo Cao Đài có tính "tổng hợp" và "linh hoạt". Giáo lý Cao Đài cho rằng từ khi có loài người, Thượng Đế đã hai lần cứu rỗi (phổ độ) chúng sinh. Lúc đầu loài người sống riêng rẽ, lẻ loi nên lập các tôn giáo khác nhau để phù hợp với từng vùng. Tất cả các tôn giáo này đều có cùng một gốc là Thượng Đế, và có cùng một mục đích là cứu rỗi chúng sinh nhưng vì tồn tại riêng rẽ nên dẫn đến xung đột. Ngày nay, điều kiện giao lưu dễ dàng, "năm châu chung chợ, bốn phương chung nhà", Ngọc Hoàng quyết định lập ra tôn giáo mới và tự làm giáo chủ để phổ độ chúng sinh lần thứ ba. Đạo Cao Đài không chỉ dung hợp "tam giáo" mà còn hết thảy "vạn giáo", dung hợp tâm linh con người với tâm linh vũ trụ. Tôn chỉ của Đạo Cao Đài là "Thiên nhân hợp nhất" và "Vạn giáo nhất lý". Cao Đài bao gồm hai pháp môn là "vô vi" và "phổ độ". Phổ độ mang tính phổ thông, dễ theo, cho tất cả mọi người; vô vi cao siêu, dành cho một số ít người. Phổ độ chủ trì phần xác còn vô vi chủ trì phần hồn. Khi thờ cúng cần phải có ba thứ là hoa (tượng trưng cho "tinh"), rượu (tượng trưng cho "khí") và trà (tượng trưng cho "thần"). Tinh-Khí-Thần hợp thành tam bảo của đạo Cao Đài Đạo Cao Đài xem mình là một tôn giáo "chính thức" và "chính danh". Chính thức vì các vị tông đồ đầu tiên đã lập tờ Khai Tịch Đạo gởi đến chính quyền Việt Nam ngày 29 tháng 9 năm 1926 (tức ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần); và tổ chức đại lễ Khai Minh Đại Đạo trước chính quyền và công chúng ngày 19 tháng 11 năm 1926 (tức ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần). Trong lễ này hàng Giáo phẩm được tấn phong và thọ lãnh Pháp Chánh Truyền của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Chính danh vì đạo Cao Đài có đức tin nơi Đức Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng; có Giáo Hội hoàn chỉnh tại Tòa thánh để điều khiển toàn đạo; có Giáo luật và kinh sách truyền bá tôn chỉ, mục đích, giáo lý Đạo; có Giáo pháp công truyền lẫn tâm truyền; có đông đảo tín đồ và nhiều Thánh thất ở trong nước và nước ngoài. Thiên Nhãn: thánh tượng Cao Đài Lịch sử Thánh tượng Thiên Nhãn của đạo Cao Đài hiện ra lần đầu cho người đệ tử đầu tiên thấy được là Ngô Minh Chiêu tại Dương Đông, Phú Quốc vào năm 1921. Ngô Minh Chiêu trực nhận đây là mặc khải của Đức Thượng Đế để chọn tượng thờ cho Đạo và đã họa lại Thiên Nhãn là hình con mắt trái rất uy nghiêm để tôn thờ và ít lâu sau truyền lại cho đồng đạo. Ngày nay thánh tượng Thiên Nhãn là tượng thờ tối cao trong toàn đạo Cao Đài, tại các thánh thất cũng như tại tư gia tín hữu. Ý nghĩa Đức Cao Đài dạy rằng Thiên Nhãn là "lý mầu nhiệm" của Đạo, buổi ban sơ môn đệ của Ngài khó hiểu hết ý nghĩa. Tuy nhiên, dần dần theo sự xiển dương sâu rộng của nền giáo lý công truyền và tâm truyền, người tín hữu Cao Đài có thể suy nghiệm các nghĩa lý căn bản, phổ quát của Thiên Nhãn như sau: Nghĩa tôn giáo: Thờ một con mắt là thờ độc thần (monothéiste), ám chỉ đạo Cao Đài là tôn giáo độc thần khác với các tín ngưỡng đa thần thời trung cổ, đánh dấu mức độ tiến hóa ngày càng cao hơn trong lịch sử tôn giáo thế giới. Vượt lên trên các tín ngưỡng sơ khai thờ vật tổ và các tín ngưỡng thờ đa thần, có các tôn giáo lớn thờ độc thần trước đây là Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo.1 Trong ý nghĩa ấy, thời kỳ này đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn biểu trưng cho Thượng Đế, vị Thần Tối Cao duy nhất của càn khôn vũ trụ. Vì Thượng Đế là đấng vô hình, đấng Cha chung của mọi giống dân, không thể dùng vật tượng hay nhơn tượng để thờ, nhưng biểu tượng Thiên Nhãn khả dĩ tượng trưng cho một giá trị phổ quát đại đồng nhứt và thể hiện được sức mạnh tinh thần của mọi chủ thể. Nghĩa giáo lý công truyền: Thiên Nhãn là biểu tượng của "Tâm", vì "Nhãn thị chủ tâm"2. Mà hướng nội, hướng tâm hay qui tâm, theo giáo lý Tam giáo là đường lối tu tiến của con người vì "Tâm" là gốc, là chủ tể3, nguyên nhân của tất cả các nguyên nhân; "Tâm" là Đạo, là Chơn ngã; giáo lý Phật giáo có câu: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức". Kinh Đại Thừa Chơn Giáo4 có viết: "Trong trời đất có cái lý nhứt định thanh quang là Thái Cực, làm ’trung tâm điểm’ cho vũ trụ càn khôn muôn loài vạn vật. Cái ’lý độc nhứt’ ấy toàn tri toàn năng biến hóa vô cùng vô tận, dưỡng dục cả sanh linh, bảo tồn cả vạn loại... Còn với nhân loại, cái ’tấm lòng’ lại là trung tâm của con người ... Cái trung tâm đạo ấy rất mầu nhiệm thông linh làm cho con người được an vui trên con đường tiến hóa. Vậy người phải lấy cái tâm làm chủ tể." Theo đạo học, Thiên Nhãn chính là Thái Cực vậy. Nghĩa giáo lý tâm truyền: Thiên Nhãn là biểu tượng của "thần", vì "Thần cư tại Nhãn"5. Thần là sức mạnh siêu nhiên của chủ thể. Đối với Thượng Đế, Thần hay "Chơn thần" là quyền năng tối thượng của Ngài tác động lên toàn thể vũ trụ vạn vật. Trong kinh Đại Thừa Chơn Giáo Ngài dạy: "Tại sao Thiên Nhãn là Thầy? ... Nhãn là cửa trái tim của con người. Trái tim ấy là Tạo hóa, tức là Thần, mà Thần là cái Lý Hư vô. Lý Hư vô ấy là Trời vậy."6 Đối với con người, Thần thể hiện sức mạnh tinh thần khi con người đạt đến khả năng tập trung cao nhất của Tâm. Về Đạo pháp, Thần là một trong ba món báu (Tam bửu) của Tiểu thiên địa nhân thân: Tinh-Khí-Thần. Sự tu luyện theo Tiên đạo là hàm dưỡng đầy đủ và hiệp nhứt được Tam bửu mới đắc đạo. Từ khi mới khai Đạo, Đức Cao Đài Giáo Chủ đã phán rằng "Lập Tam kỳ phổ độ nầy, duy Thầy cho "Thần" hiệp "Tinh–Khí" đặng hiệp đủ Tam bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập thánh."7 Vậy Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thờ Thiên Nhãn là thờ Thượng Đề hữu ngã và là thờ Chơn Thần của vũ trụ tức Thượng Đế vô ngã, là Bản nguyên của vũ trụ vạn vật, mà cũng là cứu cánh của chúng sanh.
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Con mắt là biểu tuợng của trí tuệ con người .
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
bạn có thể xem cụ thể ở đây http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_Cao_%C4%90%C3%A0i
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
vao day de xem chi tiet hon http://www.personal.usyd.edu.au/~cdao/image.htm http://www.caodai.org/vietnam/luocsu.htm http://www.caodai.org/vietnam/nguyendo.htm http://www.thienlybuutoa.org/
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_Cao_%C4%90%C3%A0i#Bi.E1.BB.83u_t.C6.B0.E1.BB.A3ng Trong này có đầy đủ thông tin về đạo Cao Đài
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Thiên: Ông Trời, từng Trời, cõi Trời. Nhãn: con mắt. Thiên nhãn là con mắt tượng trưng Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thờ Thiên nhãn là thờ Trời. Trên Quả Càn Khôn, Đức Chí Tôn bảo vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên ngôi sao Bắc Đẩu, tức nhiên Đức Chí Tôn ngự tại ngôi Bắc Đẩu. Biểu tượng Thiên Nhãn của Đạo Cao Đài, tức ĐĐTKPĐ, có một ý nghĩa vô cùng cao cả và đặc sắc, mà bất cứ một nền tôn giáo nào trên thế giới hiện nay đều không có được. I. Nguồn gốc Thiên Nhãn: Người môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn là Ngài Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu, trong lúc Ngài đang làm Quận Trưởng quận Phú Quốc tỉnh Hà Tiên, vào khoảng đầu năm 1921, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài phải tìm một dấu hiệu chi riêng biệt để thờ kỉnh. Ngài Ngô Văn Chiêu bạch với Đức Chí Tôn chọn dấu hiệu chữ Thập ( + ). Đức Chí Tôn giáng cơ đáp: Chọn chữ Thập cũng được, song đó là dấu hiệu của một nền tôn giáo đã có rồi (Thiên Chúa giáo), phải suy nghĩ để tìm ra một dấu hiệu mới khác, sẽ có Đức Chí Tôn giúp sức. Ngài Ngô Văn Chiêu xin hoãn lại một tuần lễ để suy nghĩ tìm tòi. Mãn tuần lễ rồi mà Ngài vẫn chưa tìm ra. Thế rồi một hôm, vào ngày 13-3-Tân Dậu (dl 20-4-1921), lúc 8 giờ sáng, Ngài đang ngồi trên chiếc võng ở mái hiên sau dinh quận, suy nghĩ vẩn vơ, bỗng Ngài thấy xuất hiện một CON MẮT thật lớn, hào quang chiếu diệu, cách chỗ Ngài ngồi chừng vài ba thước. Con Mắt ấy đầy đủ thần quang nhìn thẳng vào mặt Ngài, làm Ngài sợ hãi, lấy hai bàn tay che mặt lại không dám nhìn, chừng được nửa phút, Ngài mở mắt ra nhìn thử thì lại thấy CON MẮT ấy rực rỡ hào quang hơn nữa. Ngài bèn chấp tay, vái rằng: "Bạch Tiên Ông! Đệ tử biết rõ huyền diệu của Tiên Ông, xin Tiên Ông đừng làm vậy sợ lắm! Nếu Tiên Ông bảo thờ như vậy thì xin cho biến mất tức thì." Ngài khấn xong thì Con Mắt từ từ lu dần rồi biến mất. Tuy vậy, Ngài Ngô Văn Chiêu vẫn chưa thiệt tin, nên chưa vẽ Con Mắt để thờ. Cách vài ngày sau, Ngài lại thấy Thiên Nhãn xuất hiện y như lần trước. Ngài lại vái cùng Tiên Ông xin vẽ Thiên Nhãn để thờ thì Thiên Nhãn cũng lu dần rồi biến mất. (Ngài Ngô Văn Chiêu lúc đó gọi Đức Chí Tôn là Tiên Ông). Ngài Ngô Văn Chiêu, căn cứ vào hai lần chứng nghiệm đó, hoàn toàn tin tưởng nơi Đức Chí Tôn, nên Ngài vẽ Thiên Nhãn như đã thấy để thờ Đức Chí Tôn. Vào tháng Giêng năm Giáp Tý (1924), khi Ngài Ngô Văn Chiêu đứng tại Dinh Cậu Phú Quốc nhìn ra biển khơi vào lúc Mặt Trời sắp lặn, Ngài bỗng thấy Thiên Nhãn hiện ra rực rỡ hào quang trên một ngôi sao, kế dưới là Mặt Trăng lưỡi liềm, và trên mặt biển là Mặt Trời, sắp theo một sổ dọc thẳng đứng, và mặt biển là một đường nằm ngang. Hình ảnh rực rỡ và đẹp đẽ nầy, Ngài Ngô Văn Chiêu ghi nhớ và Ngài họa hình giống y như vậy để thờ: Bên dưới là mặt biển nằm ngang, bên trên là Nhựt, Nguyệt, Tinh và Thiên Nhãn, tạo thành một sổ thẳng đứng. Đến ngày 29-6-Giáp Tý (dl 30-7-1924), Ngài Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu được chánh quyền Pháp đổi về làm việc ở Sài Gòn, Ngài cũng đem Thiên Nhãn về Sài Gòn để thờ nơi nhà Ngài cư ngụ. Mặt khác, vào giữa năm 1925, Đức Chí Tôn độ được nhóm công chức Xây bàn ở Sài Gòn gồm quí ông: Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, và kế đó độ thêm Ngài Lê Văn Trung; Đức Chí Tôn bảo quí vị nầy hãy vẽ hình Thiên Nhãn để thờ Đức Chí Tôn. Lúc đó là đầu năm 1926. Quí ông rất phân vân, không biết vẽ thế nào, vì biểu tượng Thiên Nhãn thật vô cùng mới lạ. Từ trước tới giờ, người Việt Nam chỉ biết thờ tượng Phật, tượng Thánh, tượng Thần, chớ chưa hề biết thờ Thiên Nhãn. Đức Chí Tôn biết các ông đang phân vân, nên giáng cơ dạy quí ông đến nhà của ông Đốc phủ Ngô Văn Chiêu để ông Chiêu chỉ cho cách thờ, và dặn mang Đại Ngọc Cơ theo để Chí Tôn giáng cơ dạy việc. Thế là do lịnh dạy của Đức Chí Tôn, quí ông tìm đến nhà Ngài Ngô Văn Chiêu, được Ngài Chiêu hướng dẫn cách thờ phượng Đức Chí Tôn bằng biểu tượng Thiên Nhãn với đầy đủ chi tiết, và sau đó quí ông phò loan cầu Chí Tôn. Đức Chí Tôn giáng dạy quí ông hợp tác với Ngài Ngô Văn Chiêu để chuẩn bị Khai Đạo, và nhận Ngài Chiêu làm Anh Cả. Nguồn gốc thờ Thiên Nhãn của Đạo Cao Đài phát tích từ đó. Thật ra, biểu tượng Thiên Nhãn tượng trưng Đấng Thượng Đế, không phải hoàn toàn mới lạ đối với nhơn loại, vì từ thời thượng cổ, dân Ai Cập, dân Do Thái ở Phi Châu, dân Pérou ở nam Mỹ Châu, đã biết vẽ hình Thiên Nhãn ngự trên Kim Tự Tháp để thờ Đấng Thượng Đế. II. Ý nghĩa thờ Thiên Nhãn: Đức Chí Tôn dạy rằng: "Tại sao Thầy lại biểu các con tạo hình Thiên Nhãn mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các tôn giáo khác? Thầy vốn là Hư Vô chi Khí, không giống cái chi hết. Các con chớ tạo hình Thầy mà thờ. Trời là Lý, thì Lý ấy rất thông linh bao quát Càn khôn Thế giới. Thầy đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con. Nên chi, thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy." Thờ Thiên Nhãn bao gồm nhiều ý nghĩa siêu việt, xin nêu ra sau đây: a) Ý nghĩa về hình thể: 1. Tiên Nho thường nói: Hoàng Thiên hữu Nhãn, hay trong dân gian cũng thường nói: Trời cao có mắt, để chỉ rằng Ông Trời, tức là Đấng Thượng Đế, nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện ác của khắp chúng sanh, dầu bộc lộ ra ngoài hay giấu giếm kín đáo bên trong, Mắt Trời đều thấy rõ hết thảy, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bình. Do đó, trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: Càn kiện cao minh, Vạn loại thiện ác tất kiến. Nghĩa là: Càn là Trời, ngôi Càn mạnh mẽ, cao tột, sáng tỏ, Ắt hẳn thấy rõ điều thiện và ác của muôn loài vật. Thờ Thiên Nhãn với con mắt mở, để chúng ta luôn luôn nhớ rằng, bất cứ ta làm việc gì, Trời đều thấy rõ, không thể giấu giếm, cũng không thể sau nầy chối cãi được. 2. Vẽ MỘT con Mắt để thờ, mà không vẽ 2 con Mắt (một cặp) là bởi vì 1 là số khởi thủy của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật (theo Dịch học): 1 sanh 2, 2 sanh 3, 3 sanh vạn vật. Tức là Nhứt bổn tán Vạn thù, Vạn thù qui Nhứt bổn. Cho nên, số 1 là gốc, lại là số Dương, mà Đức Chí Tôn làm Chủ Dương quang, thì rất hợp lẽ. Số 1 cũng chỉ ngôi Thái Cực, là ngôi độc nhứt trong Càn Khôn Vũ trụ. 3. Vẽ Con Mắt bên TRÁI để thờ, chớ không phải vẽ Con Mắt bên Mặt, bởi vì bên Trái thuộc về Dương, bên Mặt thuộc về Âm, nên khi vào Thánh Thất quì cúng Đức Chí Tôn, phái Nam quì bên Trái của Đức Chí Tôn; phái Nữ quì bên Mặt của Đức Chí Tôn (Nam tả Nữ hữu). Do đó, Con Mắt Trái tượng trưng Đức Chí Tôn và Đức Chí Tôn chưởng quản Khí Dương quang. 4. Thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa Đại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ Con Mắt để thờ, và vẽ hình Con Mắt không có tánh cách phân biệt chủng tộc, nên có tính chất chung hết, tức là Đại đồng. Như chúng ta thấy, Phật giáo vẽ hình Đức Phật Thích Ca với hình dáng là người Ấn Độ; Thiên Chúa giáo vẽ hình Đức Chúa Jésus với hình dáng là một người Do Thái; do đó có tánh cách phân biệt về dân tộc, về quốc gia, là thờ người ngoại quốc,....Vẽ hình Con Mắt mà thờ thì tránh được các sự phân biệt vừa nêu trên. Vả lại, Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ của toàn nhơn loại, chớ đâu phải của riêng một sắc dân nào. Khi thờ Con Mắt là Đức Chí Tôn muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay dân tộc, nhìn nhau đều là anh em một nhà, con chung của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc lãnh sứ mạng của Thượng Đế để thực hiện sự Đại đồng trên toàn thế giới. b) Ý nghĩa theo Thiên Chúa Giáo: Thiên Chúa giáo có một quyển sách tựa là: "Catéchisme Album" (Giáo lý Cương yếu) do nhà xuất bản Saint Joseph ở Paris phát hành, nơi trang đầu tiên có in hình Thiên Nhãn (L’Oeil de Dieu) và chú thích như vầy: "Dieu est esprit, il ne peut être vu de nos yeux, ni, par conséquent, représenté sur une image. C’est OEIL, vous rappelle que Dieu est la souveraine intelligence, qu’il sait tout et voit tout. On l’encadre le Soleil, car Dieu est le Vrai Soleil qui éclaire et réchauffe tout et porte la vie partout. Dieu est la Lumière Éternelle." Tạm dịch: Thượng Đế là Đấng thiêng liêng, đôi mắt trần của chúng ta không thể thấy được Ngài, vì thế, không thể mô tả Ngài bằng một hình ảnh. Thiên Nhãn nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng: Thượng Đế là Đấng Toàn Tri, Ngài biết tất cả và thấy tất cả. Người ta vẽ chung quanh Thiên Nhãn những tia sáng của Mặt Trời, bởi vì Thượng Đế là ngôi Dương chơn thật, soi sáng và sưởi ấm vạn vật và mang đến sự sống khắp nơi. Thượng Đế là Ánh sáng vĩnh cửu. c) Ý nghĩa thiêng liêng: Về ý nghĩa thiêng liêng của Thiên Nhãn, Đức Chí Tôn có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: TNHT. I. 12: "Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng CON MẮT mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh: Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã giã. Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp TINH KHÍ đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Các con nhớ nói vì cớ nào thờ CON MẮT Thầy cho chư Đạo hữu nghe.... Phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật từ ngày Đạo bị bế, thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản THẦN, không cho hiệp cùng TINH, KHÍ. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo. Con hiểu "Thần cư tại nhãn". Bố trí cho chư Đạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên, Phật do yếu nhiệm là tại đó." III. Giải thích 5 câu chữ Nho về Thiên Nhãn: Xin chép lại 5 câu chữ Nho giải thích Thiên Nhãn: Nhãn thị chủ tâm, 眼是主心 Lưỡng quang chủ tể, 兩光主宰 Quang thị Thần, 光是神 Thần thị Thiên, 神是天 Thiên giả Ngã giã. 天者我也 Câu 1: Nhãn thị chủ tâm. Nhãn: con mắt. Thị: ấy là. Chủ: làm chủ. Tâm: cái Tâm. - Cái Tâm của con người là Linh hồn, cũng gọi là Tiểu hồn, Tiểu Linh quang, và con người là Tiểu Thiên Địa hay Tiểu Thượng Đế. - Cái Tâm của Trời là Đại hồn, là Đại Linh quang, và Trời là Đại Thiên Địa, thường gọi là Thượng Đế. Nhãn thị chủ Tâm: Thiên Nhãn là chủ của Thiên Tâm, tức là Thượng Đế làm chủ Đại hồn, Đại Linh quang. Câu 2: Lưỡng quang chủ tể. Lưỡng: hai. Quang: ánh sáng. Đối với Trời, Lưỡng quang là Lưỡng nghi: Âm quang và Dương quang. Tể: đứng đầu. Chủ tể, cũng đọc là Chúa tể, là đứng đầu cai trị tất cả. Lưỡng quang chủ tể: Lưỡng nghi là Chúa tể, cai trị tất cả. Bởi vì Dương quang và Âm quang ấy do Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu, chưởng quản, phối hợp để tạo thành Càn khôn Vũ trụ và hóa sanh vạn vật. Câu 3: Quang thị Thần. Quang: ánh sáng. Thị: ấy là. Thần trong trường hợp nầy là chơn linh. Đối với Thượng Đế, Thần là Đại hồn, Đại Linh quang, cũng còn gọi là Thái Cực. Quang thị Thần: Đại Linh quang ấy là Đại hồn của Thượng Đế. Câu 4: Thần thị Thiên: Đại hồn ấy là Trời, tức là Thượng Đế. Câu 5: Thiên giả Ngã giã (dã). Giả: ấy là. Ngã: Ta. Giã hay Dã: vậy. Thiên giả Ngã dã: Trời ấy là Ta vậy, (Ngã là Ta: tiếng tự xưng của Đức Chí Tôn), Trời là Đức Chí Tôn vậy. Câu "Thiên giả Ngã dã" giống như câu "Nhân giả Nhơn dã" (仁者人也): Lòng Nhân ấy là đạo làm Người vậy. Tóm tắt: Nhãn thị chủ tâm, Thượng Đế là chủ của Đại hồn. Lưỡng quang chủ tể, Dương quang và Âm quang là chúa tể. Quang thị Thần, Đại linh quang là Đại hồn. Thần thị Thiên, Đại hồn ấy là Thượng Đế. Thiên giả Ngã giã. Thượng Đế ấy là Ta vậy. Trong TNHT, tiếp theo năm câu nho văn dạy về THIÊN NHÃN, Đức Chí Tôn dạy tiếp về THẦN: Thần cư tại nhãn: Thần là một bửu trong Tam bửu (Tinh, Khí, Thần) của phép Luyện đạo: luyện cho Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tam huê tụ đảnh, tạo được chơn thần huyền diệu, đắc đạo tại thế. Từ ngày Đạo bị bế, Ngọc Hư Cung thường ngăn cản không cho Thần hiệp với Tinh và Khí, do đó người luyện đạo không thể luyện Tinh Khí Thần hiệp nhứt được, nên người tu thì nhiều mà không có người đắc đạo. Từ khi mở ĐĐTKPĐ thì thời kỳ bế Đạo chấm dứt, Đức Chí Tôn đến huờn nguyên chơn thần cho người tu đắc đạo, tức là cho phép Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tạo được chơn thần huyền diệu để cho người tu đắc đạo tại thế. Thần cư tại nhãn là cái chơn thần ấy ở tại con mắt. Cho nên thờ Thiên Nhãn là để chỉ cái yếu nhiệm của sự đắc đạo là Thần phải hiệp nhứt cùng Tinh Khí mới tạo được chơn thần huyền diệu, mà cái chơn thần đó lại thể hiện ra ở tại con mắt. Như vậy, thờ biểu tượng Thiên Nhãn có hai ý nghĩa: một là thờ Trời, hai là thờ cái yếu nhiệm là chơn thần để cho người tu luyện Tam bửu (Tinh, Khí, Thần) hiệp nhứt, đắc đạo tại thế. Lưu ý: nghĩa của chữ THẦN trong Tinh Khí Thần: Chúng ta có hai trường hợp: * Khi hiến lễ dâng Tam Bửu lên Đức Chí Tôn: Tam Bửu là: Bông, Rượu, Trà, tượng trưng Tinh, Khí, Thần. Tinh là Thể xác, Khí là Chơn thần, Thần là Chơn linh, Linh hồn. * Trong phép Luyện đạo, luyện cho Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt: Trong trường hợp nầy thì: TINH là chất tinh túy của thể xác tạo ra để lưu truyền nòi giống. Phải Luyện Tinh hóa Khí. KHÍ là chất bổ dưỡng do chất Tinh biến thành để nhờ máu luân chuyển đem đi nuôi các tế bào của cơ thể cho tươi nhuận, nhứt là nuôi các tế bào não cho thông minh sáng suốt, có đầy đủ sự tốt đẹp. Đó là Luyện Khí hiệp Thần. THẦN là Chơn thần của con người. Khi trí não đầy đủ sự thông minh sáng suốt thì phát huệ, tạo được Chơn thần nhẹ nhàng tinh tấn. Nhưng phải Luyện Thần huờn Hư, nghĩa là luyện cho Chơn thần được huyền diệu, có thể xuất nhập thể xác tùy ý muốn, để có thể vân du lên các cõi Trời, tiếp xúc với các Đấng thiêng liêng. Luyện được như vậy, gọi là Luyện Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, đắc đạo tại thế. Tóm lại, chữ THẦN có hai nghĩa: Linh hồn hay Chơn thần tùy theo trường hợp. Cho nên, thờ Thiên Nhãn cũng là thờ Chơn thần: "Thần cư tại Nhãn". Nên Đức Chí Tôn dạy rằng: "Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp cùng TINH, KHÍ, đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ siêu phàm nhập Thánh. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo."
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm
Moderator

Offline
Sưu tầm: Ðạo Cao Ðài cho rằng mọi tôn giáo trên thế gian này đều có cùng MỘT NGUYÊN LÝ, và đều do Ðức Thượng Ðế lập ra ở nhiều nơi khác nhau, vào những thời kỳ khác nhau. Vì sự khác biệt về hình thức giữa các tôn giáo mà nhân loại chia rẻ, hiềm khích nhau, nên Ðức Chí Tôn mới lập ra đạo Cao Ðài để qui nguyên hợp nhứt các tôn giáo. Nói cách khác, nguyên lý của đạo Cao Ðài là "VẠN GIÁO NHẤT LÝ". Ngoài ra, Ðức Chí Tôn còn dạy: "Thầy là các con, các con Thầy," nghĩa là từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhân loại chi chi sự sống đều có thọ một điểm linh quang của Ðức Chí Tôn, vì thế mới có câu: "Thiên địa vạn vật dồng nhất thế". Con là một thiêng liêng tại thế, Cùng với Thầy đồng thể linh quang. Khoa học hiện đại cũng đã tìm thấy rằng từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, đến nhân loại, tất cả đều có cùng một cầu thể gọi là linh quang tron nguyên tử tức là dương đi65n tử (proton) và âm điện tử (eletron). Linh quang này có một đời sống và chuyểng động không ngừng (mặc dầu bề ngoài của vật chất dường như bất động). Ðức Cao Ðài dạy tho thờ Thượng Ðế bằng biểu tượng con mất trái, với ý nghĩa "Thần cư tại nhân nghĩa là Thần ở trong con mắt và Thần là Trời: Nhãn thị chủ tâm Lưỡng quan chủ tể Quang thị thần Thần thị Thiên Thiên giả ngã giả. Nghĩa là: Mắt là chủ của lòng Hai luồng ánh sáng (âm quang và dương quang) là chủ tể. Ánh sáng là Thần Thần là Trời Trời là Ta vậy. Con mắt bên trái tượng trưng cho dương. Ðạo Cao Ðài qui nhất ngũ chi Ðại Ðạo nên triết lý của những nền tôn giáo chích thức được tìm thấy trong triết lý đạo Cao Ðài. 1. Nhân đạo và Thần Ðạo: Nhân, trí, dũng, tam can ngũ thường, tam tùng tứ đức, tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ. 2. Thánh đạo: Lòng bác ái, đức khoan dung, đức khiêm nhượng, đức vị tha. 3. Tiên đạo: Thuyết vô vi, tam bưử, ngũ hành, tu tâm luyện tánh để thoát tục siêu phàm. 4. Phật đạo: Luật nhân quả luân hồi, tứ diệu đế, bát chánh đạo, thập nhị nhân duyên, từ bi bác ái, tam qui ngũ giới, minh tâm kiến tánh. Trên thực tế: 1. Về phương diện luân lý: đạo Cao Ðài dạy con người biết bổn phận đối với mình, với gia đình, với xã hội và với nhân loại. 2. Về phương diện triết lý: đạo Cao Ðài dạy người đời từ bỏ say mê vật chất như dang vọng giàu sang để tu tâm luyện tánh và tìm thấy sự bình thản cho linh hồn. 3. Về phương diện thời phượng: đạo dạy thờ phượng Ðức Thượng Ðế, các Ðấng Thiêng Liêng, tổ tiên. 4. Về phương diện tâm linh: đạo Cao Ðài xác nhận sự hiện hữu của linh hồn và tâm hồn. Linh hồn còn được người đời gọi là lương tâm, là một phần chơn linh của Thượng Ðế, luôn luôn bất diệt chí thánh chí thiện có nhiệm vụ dạy dỗ dìu dắt tâm hồn và xác thân hành động theo lẽ phải. Tâm hồn có nhiệm vụ nghe theo sự hướng dẫn của chơn linh điều khiển xác thân sống theo thiên lý, tiến hoá theo luật luân hồi nhân quả. 5. Về phương diện tu luyện: những đạo hữu đã vên bề nhơn đạo, không vướng bận thế tình sẽ được thọ chơn pháp tham thiền nhập định, tu luyện đạo cơ giải thoát.
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Đôi dòng lịch sử : Thánh tượng Thiên Nhãn của đạo Cao Đài hiện ra lần đầu cho người đệ tử đầu tiên thấy được là Ngài Ngô Minh Chiêu tại Dương Đông , Phú Quốc vào năm 1921. Ngài Ngô trực nhận đây là mặc khải của Đức Thượng Đế để chọn tượng thờ cho Đạo. Ngài họa lại Thiên Nhãn là hình con mắt trái rất uy nghiêm để tôn thờ và ít lâu sau truyền lại cho đồng đạo. Ngày nay thánh tượng Thiên Nhãn là tượng thờ tối cao trong toàn đạo Cao Đài, tại các thánh thất cũng như tại tư gia tín hữu. Ý nghĩa : Đức Cao Đài dạy rằngThiên Nhãn là "lý mầu nhiệm" của Đạo, buổi ban sơ môn đệ của Ngài khó hiểu hết ý nghĩa. Tuy nhiên, dần dần theo sự xiển dương sâu rộng của nền giáo lý công truyền và tâm truyền, người tín hữu Cao Đài có thể suy nghiệm các nghĩa lý căn bản, phổ quát của Thiên Nhãn như sau : 1.Nghĩa tôn giáo : Thờ một con mắt là thờ độc thần ( monothéiste ) , ám chỉ đạo Cao Đài là tôn giáo độc thần khác với các tín ngưỡng đa thần thời trung cổ, đánh dấu mức độ tiến hóa ngày càng cao hơn trong lịch sử tôn giáo thế giới. Vượt lên trên các tín ngưỡng sơ khai thờ vật tổ và các tín ngưỡng thờ đa thần, có các tôn giáo lớn thờ độc thần trước đây là Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo.[1] Trong ý nghĩa ấy, thời kỳ này đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn biểu trưng cho Thượng Đế, vị Thần Tối Cao duy nhất của càn khôn vũ trụ. Vì Thượng Đế là đấng vô hình, đấng Cha chung của mọi giống dân, không thể dùng vật tượng hay nhơn tượng để thờ, nhưng biểu tượng Thiên Nhãn khả dĩ tượng trưng cho một giá trị phổ quát đại đồng nhứt và thể hiện được sức mạnh tinh thần của mọi chủ thể. 2. Nghĩa giáo lý công truyền : Thiên Nhãn là biểu tượng của " Tâm ", vì " Nhãn thị chủ tâm " [2]. Mà hướng nội, hướng tâm hay qui tâm, theo giáo lý Tam giáo là đường lối tu tiến của con người vì "Tâm" là gốc, là chủ tể [3], nguyên nhân của tất cả các nguyên nhân; "Tâm " là Đạo, là Chơn ngã ; giáo lý Phật giáo có câu : " Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức " Kinh Đại Thừa Chơn Giáo [4], có viết :" Trong trời đất có cái lý nhứt định thanh quang là Thái Cực, làm "trung tâm điểm" cho vũ trụ càn khôn muôn nloài vạn vật. Cái "lý độc nhứt " ấy toàn tri toàn năng biến hóa vô cùng vô tận, dưỡng dục cả sanh linh, bảo tồn cả vạn loại. . . Còn với nhân loại, cái " tấm lòng " lại là trung tâm của con người . . . Cái trung tâm đạo ấy rất mầu nhiệm thông linh làm cho con người được an vui trên con đường tiến hóa. Vậy người phải lấy cái tâm làm chủ tể. " Theo đạo học, Thiên Nhãn chính là Thái Cực vậy 3. Nghĩa giáo lý tâm truyền : Thiên Nhãn là biểu tượng của "thần", vì "Thần cư tại Nhãn " [5]. Thần là sức mạnh siêu nhiên của chủ thể. Đối với Thượng Đế, Thần hay "Chơn thần" là quyền năng tối thượng của Ngài tác động lên toàn thể vũ trụ vạn vật. Trong kinh Đại Thừa Chơn Giáo Ngài dạy : " Tại sao Thiên Nhãn là Thầy ? . . . Nhãn là cửa trái tim của con người. Trái tim ấy là Tạo hóa, tức là Thần, mà Thần là cái Lý Hư vô. Lý Hư vô ấy là Trời vậy. " [6] · Đối với con người, Thần thể hiện sức mạnh tinh thần khi con người đạt đến khả năng tập trung cao nhất của Tâm. · Về Đạo pháp, Thần là một trong ba món báu ( Tam bửu ) của Tiểu thiên địa nhân thân : Tinh- Khí- Thần. Sự tu luyện theo Tiên đạo là hàm dưỡng đầy đủ và hiệp nhứt được Tam bửu mới đắc đạo. Từ khi mới khai Đạo, Đức Cao Đài Giáo Chủ đã phán rằng " Lập Tam kỳ phổ độ nầy, duy Thầy cho ""Thần" hiệp "Tinh –Khí " đặng hiệp đủ "Tam bửu" là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập thánh" [7]. Vậy Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thờ Thiên Nhãn là thờ Thượng Đề hữu ngã và là thờ Chơn Thần của vũ trụ tức Thượng Đế vô ngã, là Bản nguyên của vũ trụ vạn vật, mà cũng là cứu cánh của chúng sanh.
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
rất cảm ơn bạn Acer đã có bài viết hay về câu hỏi này. Làm mình biết thêm về tôn giáo Cao Đài. Nhân đây cho mình hỏi về lịch sử và xuất hiẹn ở VN khi nào ???
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
cảm ơn bạn mình cũng dốt lịch sử lắm nhân dịp này phải học hỏi vậy nói thực minh chưa bao giờ nghe thấy đạo Cao Đài bao giờ
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
ban haqy vao googlema tim nha
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Đạo Cao Đài, tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một trong những tôn giáo phát triển ở miền Nam Việt Nam, được hình thành vào thập niên 1920, khi phong trào chống Pháp bị đàn áp. Đạo Cao Đài là dung hợp một số tôn giáo đã có để lập ra một tôn giáo mới. Đạo Cao Đài có tính "tổng hợp" và "linh hoạt". Giáo lý Cao Đài cho rằng từ khi có loài người, Thượng Đế đã hai lần cứu rỗi (phổ độ) chúng sinh. Lúc đầu loài người sống riêng rẽ, lẻ loi nên lập các tôn giáo khác nhau để phù hợp với từng vùng. Tất cả các tôn giáo này đều có cùng một gốc là Thượng Đế, và có cùng một mục đích là cứu rỗi chúng sinh nhưng vì tồn tại riêng rẽ nên dẫn đến xung đột. Ngày nay, điều kiện giao lưu dễ dàng, "năm châu chung chợ, bốn phương chung nhà", Ngọc Hoàng quyết định lập ra tôn giáo mới và tự làm giáo chủ để phổ độ chúng sinh lần thứ ba. Đạo Cao Đài không chỉ dung hợp "tam giáo" mà còn hết thảy "vạn giáo", dung hợp tâm linh con người với tâm linh vũ trụ. Tôn chỉ của Đạo Cao Đài là "Thiên nhân hợp nhất" và "Vạn giáo nhất lý". Cao Đài bao gồm hai pháp môn là "vô vi" và "phổ độ". Phổ độ mang tính phổ thông, dễ theo, cho tất cả mọi người; vô vi cao siêu, dành cho một số ít người. Phổ độ chủ trì phần xác còn vô vi chủ trì phần hồn. Khi thờ cúng cần phải có ba thứ là hoa (tượng trưng cho "tinh"), rượu (tượng trưng cho "khí") và trà (tượng trưng cho "thần"). Tinh-Khí-Thần hợp thành tam bảo của đạo Cao Đài Đạo Cao Đài xem mình là một tôn giáo "chính thức" và "chính danh". Chính thức vì các vị tông đồ đầu tiên đã lập tờ Khai Tịch Đạo gởi đến chính quyền Việt Nam ngày 29 tháng 9 năm 1926 (tức ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần); và tổ chức đại lễ Khai Minh Đại Đạo trước chính quyền và công chúng ngày 19 tháng 11 năm 1926 (tức ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần). Trong lễ này hàng Giáo phẩm được tấn phong và thọ lãnh Pháp Chánh Truyền của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Chính danh vì đạo Cao Đài có đức tin nơi Đức Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng; có Giáo Hội hoàn chỉnh tại Tòa thánh để điều khiển toàn đạo; có Giáo luật và kinh sách truyền bá tôn chỉ, mục đích, giáo lý Đạo; có Giáo pháp công truyền lẫn tâm truyền; có đông đảo tín đồ và nhiều Thánh thất ở trong nước và nước ngoài. Thiên Nhãn: thánh tượng Cao Đài Lịch sử Thánh tượng Thiên Nhãn của đạo Cao Đài hiện ra lần đầu cho người đệ tử đầu tiên thấy được là Ngô Minh Chiêu tại Dương Đông, Phú Quốc vào năm 1921. Ngô Minh Chiêu trực nhận đây là mặc khải của Đức Thượng Đế để chọn tượng thờ cho Đạo và đã họa lại Thiên Nhãn là hình con mắt trái rất uy nghiêm để tôn thờ và ít lâu sau truyền lại cho đồng đạo. Ngày nay thánh tượng Thiên Nhãn là tượng thờ tối cao trong toàn đạo Cao Đài, tại các thánh thất cũng như tại tư gia tín hữu. Ý nghĩa Đức Cao Đài dạy rằng Thiên Nhãn là "lý mầu nhiệm" của Đạo, buổi ban sơ môn đệ của Ngài khó hiểu hết ý nghĩa. Tuy nhiên, dần dần theo sự xiển dương sâu rộng của nền giáo lý công truyền và tâm truyền, người tín hữu Cao Đài có thể suy nghiệm các nghĩa lý căn bản, phổ quát của Thiên Nhãn như sau: Nghĩa tôn giáo: Thờ một con mắt là thờ độc thần (monothéiste), ám chỉ đạo Cao Đài là tôn giáo độc thần khác với các tín ngưỡng đa thần thời trung cổ, đánh dấu mức độ tiến hóa ngày càng cao hơn trong lịch sử tôn giáo thế giới. Vượt lên trên các tín ngưỡng sơ khai thờ vật tổ và các tín ngưỡng thờ đa thần, có các tôn giáo lớn thờ độc thần trước đây là Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo.1 Trong ý nghĩa ấy, thời kỳ này đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn biểu trưng cho Thượng Đế, vị Thần Tối Cao duy nhất của càn khôn vũ trụ. Vì Thượng Đế là đấng vô hình, đấng Cha chung của mọi giống dân, không thể dùng vật tượng hay nhơn tượng để thờ, nhưng biểu tượng Thiên Nhãn khả dĩ tượng trưng cho một giá trị phổ quát đại đồng nhứt và thể hiện được sức mạnh tinh thần của mọi chủ thể. Nghĩa giáo lý công truyền: Thiên Nhãn là biểu tượng của "Tâm", vì "Nhãn thị chủ tâm"2. Mà hướng nội, hướng tâm hay qui tâm, theo giáo lý Tam giáo là đường lối tu tiến của con người vì "Tâm" là gốc, là chủ tể3, nguyên nhân của tất cả các nguyên nhân; "Tâm" là Đạo, là Chơn ngã; giáo lý Phật giáo có câu: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức". Kinh Đại Thừa Chơn Giáo4 có viết: "Trong trời đất có cái lý nhứt định thanh quang là Thái Cực, làm ’trung tâm điểm’ cho vũ trụ càn khôn muôn loài vạn vật. Cái ’lý độc nhứt’ ấy toàn tri toàn năng biến hóa vô cùng vô tận, dưỡng dục cả sanh linh, bảo tồn cả vạn loại... Còn với nhân loại, cái ’tấm lòng’ lại là trung tâm của con người ... Cái trung tâm đạo ấy rất mầu nhiệm thông linh làm cho con người được an vui trên con đường tiến hóa. Vậy người phải lấy cái tâm làm chủ tể." Theo đạo học, Thiên Nhãn chính là Thái Cực vậy. Nghĩa giáo lý tâm truyền: Thiên Nhãn là biểu tượng của "thần", vì "Thần cư tại Nhãn"5. Thần là sức mạnh siêu nhiên của chủ thể. Đối với Thượng Đế, Thần hay "Chơn thần" là quyền năng tối thượng của Ngài tác động lên toàn thể vũ trụ vạn vật. Trong kinh Đại Thừa Chơn Giáo Ngài dạy: "Tại sao Thiên Nhãn là Thầy? ... Nhãn là cửa trái tim của con người. Trái tim ấy là Tạo hóa, tức là Thần, mà Thần là cái Lý Hư vô. Lý Hư vô ấy là Trời vậy."6 Đối với con người, Thần thể hiện sức mạnh tinh thần khi con người đạt đến khả năng tập trung cao nhất của Tâm. Về Đạo pháp, Thần là một trong ba món báu (Tam bửu) của Tiểu thiên địa nhân thân: Tinh-Khí-Thần. Sự tu luyện theo Tiên đạo là hàm dưỡng đầy đủ và hiệp nhứt được Tam bửu mới đắc đạo. Từ khi mới khai Đạo, Đức Cao Đài Giáo Chủ đã phán rằng "Lập Tam kỳ phổ độ nầy, duy Thầy cho "Thần" hiệp "Tinh–Khí" đặng hiệp đủ Tam bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập thánh."7 Vậy Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thờ Thiên Nhãn là thờ Thượng Đề hữu ngã và là thờ Chơn Thần của vũ trụ tức Thượng Đế vô ngã, là Bản nguyên của vũ trụ vạn vật, mà cũng là cứu cánh của chúng sanh.
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Con mắt là biểu tuợng của trí tuệ con người .
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
bạn có thể xem cụ thể ở đây http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_Cao_%C4%90%C3%A0i
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
vao day de xem chi tiet hon http://www.personal.usyd.edu.au/~cdao/image.htm http://www.caodai.org/vietnam/luocsu.htm http://www.caodai.org/vietnam/nguyendo.htm http://www.thienlybuutoa.org/
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_Cao_%C4%90%C3%A0i#Bi.E1.BB.83u_t.C6.B0.E1.BB.A3ng Trong này có đầy đủ thông tin về đạo Cao Đài
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline
Thiên: Ông Trời, từng Trời, cõi Trời. Nhãn: con mắt. Thiên nhãn là con mắt tượng trưng Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thờ Thiên nhãn là thờ Trời. Trên Quả Càn Khôn, Đức Chí Tôn bảo vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên ngôi sao Bắc Đẩu, tức nhiên Đức Chí Tôn ngự tại ngôi Bắc Đẩu. Biểu tượng Thiên Nhãn của Đạo Cao Đài, tức ĐĐTKPĐ, có một ý nghĩa vô cùng cao cả và đặc sắc, mà bất cứ một nền tôn giáo nào trên thế giới hiện nay đều không có được. I. Nguồn gốc Thiên Nhãn: Người môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn là Ngài Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu, trong lúc Ngài đang làm Quận Trưởng quận Phú Quốc tỉnh Hà Tiên, vào khoảng đầu năm 1921, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài phải tìm một dấu hiệu chi riêng biệt để thờ kỉnh. Ngài Ngô Văn Chiêu bạch với Đức Chí Tôn chọn dấu hiệu chữ Thập ( + ). Đức Chí Tôn giáng cơ đáp: Chọn chữ Thập cũng được, song đó là dấu hiệu của một nền tôn giáo đã có rồi (Thiên Chúa giáo), phải suy nghĩ để tìm ra một dấu hiệu mới khác, sẽ có Đức Chí Tôn giúp sức. Ngài Ngô Văn Chiêu xin hoãn lại một tuần lễ để suy nghĩ tìm tòi. Mãn tuần lễ rồi mà Ngài vẫn chưa tìm ra. Thế rồi một hôm, vào ngày 13-3-Tân Dậu (dl 20-4-1921), lúc 8 giờ sáng, Ngài đang ngồi trên chiếc võng ở mái hiên sau dinh quận, suy nghĩ vẩn vơ, bỗng Ngài thấy xuất hiện một CON MẮT thật lớn, hào quang chiếu diệu, cách chỗ Ngài ngồi chừng vài ba thước. Con Mắt ấy đầy đủ thần quang nhìn thẳng vào mặt Ngài, làm Ngài sợ hãi, lấy hai bàn tay che mặt lại không dám nhìn, chừng được nửa phút, Ngài mở mắt ra nhìn thử thì lại thấy CON MẮT ấy rực rỡ hào quang hơn nữa. Ngài bèn chấp tay, vái rằng: "Bạch Tiên Ông! Đệ tử biết rõ huyền diệu của Tiên Ông, xin Tiên Ông đừng làm vậy sợ lắm! Nếu Tiên Ông bảo thờ như vậy thì xin cho biến mất tức thì." Ngài khấn xong thì Con Mắt từ từ lu dần rồi biến mất. Tuy vậy, Ngài Ngô Văn Chiêu vẫn chưa thiệt tin, nên chưa vẽ Con Mắt để thờ. Cách vài ngày sau, Ngài lại thấy Thiên Nhãn xuất hiện y như lần trước. Ngài lại vái cùng Tiên Ông xin vẽ Thiên Nhãn để thờ thì Thiên Nhãn cũng lu dần rồi biến mất. (Ngài Ngô Văn Chiêu lúc đó gọi Đức Chí Tôn là Tiên Ông). Ngài Ngô Văn Chiêu, căn cứ vào hai lần chứng nghiệm đó, hoàn toàn tin tưởng nơi Đức Chí Tôn, nên Ngài vẽ Thiên Nhãn như đã thấy để thờ Đức Chí Tôn. Vào tháng Giêng năm Giáp Tý (1924), khi Ngài Ngô Văn Chiêu đứng tại Dinh Cậu Phú Quốc nhìn ra biển khơi vào lúc Mặt Trời sắp lặn, Ngài bỗng thấy Thiên Nhãn hiện ra rực rỡ hào quang trên một ngôi sao, kế dưới là Mặt Trăng lưỡi liềm, và trên mặt biển là Mặt Trời, sắp theo một sổ dọc thẳng đứng, và mặt biển là một đường nằm ngang. Hình ảnh rực rỡ và đẹp đẽ nầy, Ngài Ngô Văn Chiêu ghi nhớ và Ngài họa hình giống y như vậy để thờ: Bên dưới là mặt biển nằm ngang, bên trên là Nhựt, Nguyệt, Tinh và Thiên Nhãn, tạo thành một sổ thẳng đứng. Đến ngày 29-6-Giáp Tý (dl 30-7-1924), Ngài Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu được chánh quyền Pháp đổi về làm việc ở Sài Gòn, Ngài cũng đem Thiên Nhãn về Sài Gòn để thờ nơi nhà Ngài cư ngụ. Mặt khác, vào giữa năm 1925, Đức Chí Tôn độ được nhóm công chức Xây bàn ở Sài Gòn gồm quí ông: Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, và kế đó độ thêm Ngài Lê Văn Trung; Đức Chí Tôn bảo quí vị nầy hãy vẽ hình Thiên Nhãn để thờ Đức Chí Tôn. Lúc đó là đầu năm 1926. Quí ông rất phân vân, không biết vẽ thế nào, vì biểu tượng Thiên Nhãn thật vô cùng mới lạ. Từ trước tới giờ, người Việt Nam chỉ biết thờ tượng Phật, tượng Thánh, tượng Thần, chớ chưa hề biết thờ Thiên Nhãn. Đức Chí Tôn biết các ông đang phân vân, nên giáng cơ dạy quí ông đến nhà của ông Đốc phủ Ngô Văn Chiêu để ông Chiêu chỉ cho cách thờ, và dặn mang Đại Ngọc Cơ theo để Chí Tôn giáng cơ dạy việc. Thế là do lịnh dạy của Đức Chí Tôn, quí ông tìm đến nhà Ngài Ngô Văn Chiêu, được Ngài Chiêu hướng dẫn cách thờ phượng Đức Chí Tôn bằng biểu tượng Thiên Nhãn với đầy đủ chi tiết, và sau đó quí ông phò loan cầu Chí Tôn. Đức Chí Tôn giáng dạy quí ông hợp tác với Ngài Ngô Văn Chiêu để chuẩn bị Khai Đạo, và nhận Ngài Chiêu làm Anh Cả. Nguồn gốc thờ Thiên Nhãn của Đạo Cao Đài phát tích từ đó. Thật ra, biểu tượng Thiên Nhãn tượng trưng Đấng Thượng Đế, không phải hoàn toàn mới lạ đối với nhơn loại, vì từ thời thượng cổ, dân Ai Cập, dân Do Thái ở Phi Châu, dân Pérou ở nam Mỹ Châu, đã biết vẽ hình Thiên Nhãn ngự trên Kim Tự Tháp để thờ Đấng Thượng Đế. II. Ý nghĩa thờ Thiên Nhãn: Đức Chí Tôn dạy rằng: "Tại sao Thầy lại biểu các con tạo hình Thiên Nhãn mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các tôn giáo khác? Thầy vốn là Hư Vô chi Khí, không giống cái chi hết. Các con chớ tạo hình Thầy mà thờ. Trời là Lý, thì Lý ấy rất thông linh bao quát Càn khôn Thế giới. Thầy đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con. Nên chi, thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy." Thờ Thiên Nhãn bao gồm nhiều ý nghĩa siêu việt, xin nêu ra sau đây: a) Ý nghĩa về hình thể: 1. Tiên Nho thường nói: Hoàng Thiên hữu Nhãn, hay trong dân gian cũng thường nói: Trời cao có mắt, để chỉ rằng Ông Trời, tức là Đấng Thượng Đế, nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện ác của khắp chúng sanh, dầu bộc lộ ra ngoài hay giấu giếm kín đáo bên trong, Mắt Trời đều thấy rõ hết thảy, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bình. Do đó, trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: Càn kiện cao minh, Vạn loại thiện ác tất kiến. Nghĩa là: Càn là Trời, ngôi Càn mạnh mẽ, cao tột, sáng tỏ, Ắt hẳn thấy rõ điều thiện và ác của muôn loài vật. Thờ Thiên Nhãn với con mắt mở, để chúng ta luôn luôn nhớ rằng, bất cứ ta làm việc gì, Trời đều thấy rõ, không thể giấu giếm, cũng không thể sau nầy chối cãi được. 2. Vẽ MỘT con Mắt để thờ, mà không vẽ 2 con Mắt (một cặp) là bởi vì 1 là số khởi thủy của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật (theo Dịch học): 1 sanh 2, 2 sanh 3, 3 sanh vạn vật. Tức là Nhứt bổn tán Vạn thù, Vạn thù qui Nhứt bổn. Cho nên, số 1 là gốc, lại là số Dương, mà Đức Chí Tôn làm Chủ Dương quang, thì rất hợp lẽ. Số 1 cũng chỉ ngôi Thái Cực, là ngôi độc nhứt trong Càn Khôn Vũ trụ. 3. Vẽ Con Mắt bên TRÁI để thờ, chớ không phải vẽ Con Mắt bên Mặt, bởi vì bên Trái thuộc về Dương, bên Mặt thuộc về Âm, nên khi vào Thánh Thất quì cúng Đức Chí Tôn, phái Nam quì bên Trái của Đức Chí Tôn; phái Nữ quì bên Mặt của Đức Chí Tôn (Nam tả Nữ hữu). Do đó, Con Mắt Trái tượng trưng Đức Chí Tôn và Đức Chí Tôn chưởng quản Khí Dương quang. 4. Thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa Đại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ Con Mắt để thờ, và vẽ hình Con Mắt không có tánh cách phân biệt chủng tộc, nên có tính chất chung hết, tức là Đại đồng. Như chúng ta thấy, Phật giáo vẽ hình Đức Phật Thích Ca với hình dáng là người Ấn Độ; Thiên Chúa giáo vẽ hình Đức Chúa Jésus với hình dáng là một người Do Thái; do đó có tánh cách phân biệt về dân tộc, về quốc gia, là thờ người ngoại quốc,....Vẽ hình Con Mắt mà thờ thì tránh được các sự phân biệt vừa nêu trên. Vả lại, Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ của toàn nhơn loại, chớ đâu phải của riêng một sắc dân nào. Khi thờ Con Mắt là Đức Chí Tôn muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay dân tộc, nhìn nhau đều là anh em một nhà, con chung của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc lãnh sứ mạng của Thượng Đế để thực hiện sự Đại đồng trên toàn thế giới. b) Ý nghĩa theo Thiên Chúa Giáo: Thiên Chúa giáo có một quyển sách tựa là: "Catéchisme Album" (Giáo lý Cương yếu) do nhà xuất bản Saint Joseph ở Paris phát hành, nơi trang đầu tiên có in hình Thiên Nhãn (L’Oeil de Dieu) và chú thích như vầy: "Dieu est esprit, il ne peut être vu de nos yeux, ni, par conséquent, représenté sur une image. C’est OEIL, vous rappelle que Dieu est la souveraine intelligence, qu’il sait tout et voit tout. On l’encadre le Soleil, car Dieu est le Vrai Soleil qui éclaire et réchauffe tout et porte la vie partout. Dieu est la Lumière Éternelle." Tạm dịch: Thượng Đế là Đấng thiêng liêng, đôi mắt trần của chúng ta không thể thấy được Ngài, vì thế, không thể mô tả Ngài bằng một hình ảnh. Thiên Nhãn nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng: Thượng Đế là Đấng Toàn Tri, Ngài biết tất cả và thấy tất cả. Người ta vẽ chung quanh Thiên Nhãn những tia sáng của Mặt Trời, bởi vì Thượng Đế là ngôi Dương chơn thật, soi sáng và sưởi ấm vạn vật và mang đến sự sống khắp nơi. Thượng Đế là Ánh sáng vĩnh cửu. c) Ý nghĩa thiêng liêng: Về ý nghĩa thiêng liêng của Thiên Nhãn, Đức Chí Tôn có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: TNHT. I. 12: "Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng CON MẮT mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh: Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã giã. Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp TINH KHÍ đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh. Các con nhớ nói vì cớ nào thờ CON MẮT Thầy cho chư Đạo hữu nghe.... Phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật từ ngày Đạo bị bế, thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản THẦN, không cho hiệp cùng TINH, KHÍ. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo. Con hiểu "Thần cư tại nhãn". Bố trí cho chư Đạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên, Phật do yếu nhiệm là tại đó." III. Giải thích 5 câu chữ Nho về Thiên Nhãn: Xin chép lại 5 câu chữ Nho giải thích Thiên Nhãn: Nhãn thị chủ tâm, 眼是主心 Lưỡng quang chủ tể, 兩光主宰 Quang thị Thần, 光是神 Thần thị Thiên, 神是天 Thiên giả Ngã giã. 天者我也 Câu 1: Nhãn thị chủ tâm. Nhãn: con mắt. Thị: ấy là. Chủ: làm chủ. Tâm: cái Tâm. - Cái Tâm của con người là Linh hồn, cũng gọi là Tiểu hồn, Tiểu Linh quang, và con người là Tiểu Thiên Địa hay Tiểu Thượng Đế. - Cái Tâm của Trời là Đại hồn, là Đại Linh quang, và Trời là Đại Thiên Địa, thường gọi là Thượng Đế. Nhãn thị chủ Tâm: Thiên Nhãn là chủ của Thiên Tâm, tức là Thượng Đế làm chủ Đại hồn, Đại Linh quang. Câu 2: Lưỡng quang chủ tể. Lưỡng: hai. Quang: ánh sáng. Đối với Trời, Lưỡng quang là Lưỡng nghi: Âm quang và Dương quang. Tể: đứng đầu. Chủ tể, cũng đọc là Chúa tể, là đứng đầu cai trị tất cả. Lưỡng quang chủ tể: Lưỡng nghi là Chúa tể, cai trị tất cả. Bởi vì Dương quang và Âm quang ấy do Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu, chưởng quản, phối hợp để tạo thành Càn khôn Vũ trụ và hóa sanh vạn vật. Câu 3: Quang thị Thần. Quang: ánh sáng. Thị: ấy là. Thần trong trường hợp nầy là chơn linh. Đối với Thượng Đế, Thần là Đại hồn, Đại Linh quang, cũng còn gọi là Thái Cực. Quang thị Thần: Đại Linh quang ấy là Đại hồn của Thượng Đế. Câu 4: Thần thị Thiên: Đại hồn ấy là Trời, tức là Thượng Đế. Câu 5: Thiên giả Ngã giã (dã). Giả: ấy là. Ngã: Ta. Giã hay Dã: vậy. Thiên giả Ngã dã: Trời ấy là Ta vậy, (Ngã là Ta: tiếng tự xưng của Đức Chí Tôn), Trời là Đức Chí Tôn vậy. Câu "Thiên giả Ngã dã" giống như câu "Nhân giả Nhơn dã" (仁者人也): Lòng Nhân ấy là đạo làm Người vậy. Tóm tắt: Nhãn thị chủ tâm, Thượng Đế là chủ của Đại hồn. Lưỡng quang chủ tể, Dương quang và Âm quang là chúa tể. Quang thị Thần, Đại linh quang là Đại hồn. Thần thị Thiên, Đại hồn ấy là Thượng Đế. Thiên giả Ngã giã. Thượng Đế ấy là Ta vậy. Trong TNHT, tiếp theo năm câu nho văn dạy về THIÊN NHÃN, Đức Chí Tôn dạy tiếp về THẦN: Thần cư tại nhãn: Thần là một bửu trong Tam bửu (Tinh, Khí, Thần) của phép Luyện đạo: luyện cho Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tam huê tụ đảnh, tạo được chơn thần huyền diệu, đắc đạo tại thế. Từ ngày Đạo bị bế, Ngọc Hư Cung thường ngăn cản không cho Thần hiệp với Tinh và Khí, do đó người luyện đạo không thể luyện Tinh Khí Thần hiệp nhứt được, nên người tu thì nhiều mà không có người đắc đạo. Từ khi mở ĐĐTKPĐ thì thời kỳ bế Đạo chấm dứt, Đức Chí Tôn đến huờn nguyên chơn thần cho người tu đắc đạo, tức là cho phép Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tạo được chơn thần huyền diệu để cho người tu đắc đạo tại thế. Thần cư tại nhãn là cái chơn thần ấy ở tại con mắt. Cho nên thờ Thiên Nhãn là để chỉ cái yếu nhiệm của sự đắc đạo là Thần phải hiệp nhứt cùng Tinh Khí mới tạo được chơn thần huyền diệu, mà cái chơn thần đó lại thể hiện ra ở tại con mắt. Như vậy, thờ biểu tượng Thiên Nhãn có hai ý nghĩa: một là thờ Trời, hai là thờ cái yếu nhiệm là chơn thần để cho người tu luyện Tam bửu (Tinh, Khí, Thần) hiệp nhứt, đắc đạo tại thế. Lưu ý: nghĩa của chữ THẦN trong Tinh Khí Thần: Chúng ta có hai trường hợp: * Khi hiến lễ dâng Tam Bửu lên Đức Chí Tôn: Tam Bửu là: Bông, Rượu, Trà, tượng trưng Tinh, Khí, Thần. Tinh là Thể xác, Khí là Chơn thần, Thần là Chơn linh, Linh hồn. * Trong phép Luyện đạo, luyện cho Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt: Trong trường hợp nầy thì: TINH là chất tinh túy của thể xác tạo ra để lưu truyền nòi giống. Phải Luyện Tinh hóa Khí. KHÍ là chất bổ dưỡng do chất Tinh biến thành để nhờ máu luân chuyển đem đi nuôi các tế bào của cơ thể cho tươi nhuận, nhứt là nuôi các tế bào não cho thông minh sáng suốt, có đầy đủ sự tốt đẹp. Đó là Luyện Khí hiệp Thần. THẦN là Chơn thần của con người. Khi trí não đầy đủ sự thông minh sáng suốt thì phát huệ, tạo được Chơn thần nhẹ nhàng tinh tấn. Nhưng phải Luyện Thần huờn Hư, nghĩa là luyện cho Chơn thần được huyền diệu, có thể xuất nhập thể xác tùy ý muốn, để có thể vân du lên các cõi Trời, tiếp xúc với các Đấng thiêng liêng. Luyện được như vậy, gọi là Luyện Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, đắc đạo tại thế. Tóm lại, chữ THẦN có hai nghĩa: Linh hồn hay Chơn thần tùy theo trường hợp. Cho nên, thờ Thiên Nhãn cũng là thờ Chơn thần: "Thần cư tại Nhãn". Nên Đức Chí Tôn dạy rằng: "Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy, duy Thầy cho THẦN hiệp cùng TINH, KHÍ, đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ siêu phàm nhập Thánh. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo."
+ Trả lời cách đây hơn 7 năm

Offline

đạo cao đài ai tài giỏi đều thờ cả

+ Trả lời cách đây hơn 3 năm
Trả lời câu hỏi
Chú ý: Nội dung gửi lên bắt buộc viết có dấu. Nội dung viết không có dấu, sai chính tả nhiều sẽ bị xem vi phạm luật sử dụng của Hỏi & Đáp
Những câu trả lời như "bó tay", "không biết" sẽ bị xóa.
ĐĂNG NHẬP
Loading ...