Hỏi & Đáp 3.0

Hỏi & Đáp 3.0

Mời tham quan phiên bản 3.0 của Hỏi & Đáp để khám phá những chức năng mới lạ và hấp dẫn.
Tham Quan

Theo Hỏi & Đáp trên Facebook

Mời bạn cùng tham gia theo Hỏi & Đáp trên Facebook để được thông báo khi Hỏi & Đáp 3.0 đi vào hoạt động
Thích
Kiểu Gõ:  TELEX VNI VIQR OFF
Offline
10
Điểm
Huyết áp tâm trương thấp co sao không??
Huyết áp trung bình của tôi là 120/ 60 đôi khi huyết áp dưới lại thấp hơn 60 vây có tốt không?? theo tôi đươc biết thi sư chênh lệch giũa huyết áp trên và dưới gọi là áp lực mạch...áp luực mạch càng cao thì càng không tốt có phải không??
+ Cách đây hơn 6 năm
+ Lượt xem : 6,718
Trả lời (4)
Hiển thị theo

Offline
Để nói là huyết áp thấp hay cao còn phụ thuộc vào vài yếu tố như tuổi tác, sức khỏe, cách sinh hoạt,... Nhưng nói chung chung thì nếu huyết áp < 60 / 40 mmHg thì khó mà gọi là bình thường được. Để dễ hình dùng việc huyết áp thấp ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào thì tạm lấy hình ảnh này để dễ thấy rõ: - Dòng máu trong người là một dòng sông với nhiều nhánh rẽ là các mạch máu. Dòng sông này đưa đồ ăn, khí oxy & các thứ cần thiết khác đến các bến bờ là các tế bào. - Huyết áp nghĩa là ÁP lực của HUYẾT (máu) trong lòng mạch máu. Ở đây ta coi như là độ cao của mực nước sông. Vậy nếu huyết áp thấp thì nghĩa là nước sông bị cạn. Vậy thì việc vận chuyển trên sông sẽ khó khăn hơn --> đồ ăn, khí oxy & các thứ cần thiết khác sẽ khó được đưa đến tế bào hơn --> tế bào sẽ nghèo đói các thứ thiết yếu này --> tế bào suy yếu. Mặt khác, rác thải như các chất độc, cặn bã, khí carbonic được sinh ra trong quá trình hoạt động của tế bào sẽ khó được nước chuyên chở đi đổ bỏ nên sẽ ứ đọng ở tế bào & gây hại cho tế bào --> tế bào suy yếu. Người có huyết áp quá thấp, ví dụ 80/60 mgHg do đó dễ mệt mỏi, chóng mặt, khó tập trung tư tưởng, mất ngủ, nhức đầu, tê tay chân… Đó là chưa kể đến nhiều chứng mệnh nghiêm trọng khi tình trạng thiếu dưỡng khí tế bào kéo dài, từ rối loạn biến dưỡng như trong bệnh tiểu đường cho đến biến chứng ác tính như ung thư! Huyết áp thấp vì thế cần được điều trị triệt để càng sớm càng tốt. Chúc bạn có một sức khỏe tốt hơn
+ Trả lời cách đây hơn 6 năm

Offline
Chứng huyết áp thấp bất kỳ do nguyên nhân nào, theo YHCT, đều thuộc chứng hư. Nhẹ thì do Tâm dương bất túc, Tỳ khí suy nhược. Nặng thì thuộc thể Tâm Thận dương suy, vong dương, hư thoát. Trên lâm sàng thường gặp các loại sau: 1- Tâm Dương Hư Thoát: Váng đầu, hoa mắt, tinh thần mỏi mệt, buồn ngủ, ngón tay lạnh, chất lưỡi nhạt, thân lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch Hoãn, không lực hoặc Trầm Tế. Điều trị: Ôn bổ Tâm dương. Dùng bài Quế Chi Cam Thảo Thang gia vị: Nhục quế, Quế chi, Chích cam thảo đều 10g, mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 9 – 12 thang hoặc hãm với nước sôi uống như nước trà. Gia giảm: Chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô là chứng khí âm bất túc, thêm Mạch môn, Ngũ vị tử để ích khí, dưỡng âm. Khí hư, ít nói, ra mồ hôi: Bổ khí thêm Hồng sâm để bổ khí, trợ dương. Huyết áp tâm thu dưới 60mm/Hg, chân tay lạnh, có triệu chứng vong dương, bỏ Quế chi, thêm Hồng sâm, Phụ tử (chế) để hồi dương, cứu thoát. 2) Trung Khí Bất Túc, Tỳ Vị Hư Yếu: Váng đầu, hồi hộp, hơi thở ngắøn, tinh thần mệt mỏi, chân tay mềm yếu, sợ lạnh, dễ ra mồ hôi, ăn kém, ăn xong bụng đầy, chất lưỡi nhợt, rêu trắng nhuận, mạch Hoãn, vô lực. Điều trị: Bổ trung, ích khí, kiện Tỳ Vị. Dùng bài Hương Sa Lục Quân Thang gia giảm (Đảng sâm 8g, Bạch truật 10g, Bạch linh 10g, Đương quy 12g, Hoàng kỳ 12g, Bạch thược 12g, Chỉ thực 8g, Trần bì 8g, Mộc hương 6g, Sa nhân 6g, Quế chi 6g, Chích thảo 4g, Đại táo 12g, Gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang. 3) Tỳ Thận Dương Hư: Váng đầu, ù tai, mất ngủ, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ăn kém, đau lưng, mỏi gối, chân tay lạnh, sợ lạnh hoặc di tinh, liệt dương, tiểu đêm, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch Trầm Nhược. Điều trị: Ôn bổ Tỳ Thận dương. Dùng bài Chân Vũ Thang gia vị: Đảng sâm 12g, Chế phụ tử 6 - 8g (sắc trước), Bạch truật 12g, Bạch thược 12g, Bạch linh 12g, Quế nhục 6g, Câu kỷ tử 12g, Liên nhục 12g, Bá tử nhân 12g, Ích trí nhân 10g, Toan táo nhân (sao) 20g, Dạgiao đằng 12g, Gừng tươi 3 lát, sắc uống. 4) Khí Âm Lưỡng Hư: Đau đầu, chóng mặt, khát, họng khô, lưỡi thon đỏ, ít rêu, khô, mạch Tế Sác . Điều trị: Ích khí, dưỡng âm. Dùng bài Sinh Mạch Tán gia vị: Tây dương sâm 20g, Mạch môn 16g, Ngũ vị tử 4g, Hoàng tinh 12g, sắc uống. Những Bài Thuốc Kinh Nghiệm + Quế Cam Trà (Vương Hưng Quốc, tỉnh Sơn Đông, Sở Nghiên cứu trung y Tế Ninh). Quế chi, Cam thảo đều 9g, Quế tâm 3g, ngày 1 gói, hãm nước sôi uống. Liệu trình 50 ngày. - Kết quả lâm sàng: Dùng trị 48 ca huyết áp dưới 86/60mmhg, có 36 ca huyết áp lên trên 100v70mm/Hg, 8 ca huyết áp ổn định mức 90/60mm\Hg, 4 ca không kết quả, tỉ lệ kết quả 91,66%. + Quế Chi Cam Phụ Thang (Dương Vạn Lâm, tỉnh Hắc Long Giang Trung quốc): Quế chi, Cam thảo, Xuyên phụ tử đều 15g, ngày 1 thang, hãm nước sôi uống thay trà. - Kết quả lâm sàng: Đã dùng trị 38 ca, thường sau khi dùng 4 - 12 thang, huyết áp lên với mức độ khác nhau. Trước khi dùng thuốc, huyết áp bình quân 90 - 80/70 – 50mm\Hg, sau điều trị huyết áp lên bình quân 110,5/68,5mm\hg. 85% bệnh nhân huyết áp được củng cố. - Ghi chú: Lúc dùng thuốc bệnh nhân ngủ kém thêm Dạgiao đằng 50 - 70g. Trường hợp nặng có thể thêm Hồng sâm 15 - 25g, Phụ tử tăng lên đến 30g, sắc trước 1 giờ. Trước khi dùng bài này tác giả đã dùng các bài ‘Bổ Trung Ích Khí Thang, Qui Tỳ Thang’, nhưng kết quả không rõ rệt. + Thục Địa Hoàng Kỳ Thang (Vương Triệu Khuê, Hà Bắc): Thục địa 24g, Sơn dược 24g, Đơn bì, Trạch tả, Phục linh, Mạch môn, Ngũ vị tử đều 10g, Sơn thù 15g, Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm 6g (Đảng sâm 12g) sắc uống. Biện chứng gia giảm: Khí hư rõ dùng Hoàng kỳ 20 - 30g; Khí âm lưỡng hư, thay Nhân sâm bằng Thái tử sâm 20g; Huyết hư thêm Đương qui; Váng đầu nặng thêm Cúc hoa, Tang diệp; Âm hư hỏa vượng thêm Hoàng bá, Tri mẫu; Kèm thấp, trọng dụng Phục linh; Lưng gối nhức mỏi, chân sợ lạnh thêm Phụ tử, Nhục quế. Kết quả lâm sàng: Đã dùng trị 31 ca, kết quả tốt (huyết áp hồi phục lên 120/80mmHg) 21 ca, tỷ lệ 67,7%, có kết quả (huyết áp hồi phục trên 90/60mm\hg) 10 ca (32,3%. Lượng thuốc uống nhiều nhất là từ 8 đến 20 thang, ít nhất 8 thang. + Trương Thị Thăng Áp Thang (Trương Liên Ba, tỉnh Giang Tô): Đảng sâm 12g, Hoàng tinh 12g, Nhục quế 10g, Đại táo 10 quả, Cam thảo 6g. Sắc uống. 15 ngày là một liệu trình. Kết quả lâm sàng: Đã trị 30 ca liên tục 1 liệu trình, hầu hết trở lại bình thường, huyết áp trở lại bình thường 15 ca. Uống thuốc 2 liệu trình, triệu chứng bệnh hết 18 ca, còn 2 ca không kiên trì chữa bệnh. + Thăng Áp Thang (Y Học Văn Tuyển 1988 (1): Quế chi, Nhục quế đều 30g, Cam thảo 15g. Sắc uống. TD: Trợ dương thăng áp. Trị huyết áp thấp. Thường uống 2-3 thang là huyết áp có thể tăng lên, phục hồi lại như bình thường. + Phù Chính Thăng Áp Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Nhân sâm 10g (hoặc Nam Ngũ gia bì 15g), Mạch môn, Chích thảo, Trần bì, A giao đều 15g, Ngũ vị tử 12g, Sinh địa 20 ~ 30g, Chỉ xác 10g, Hoàng kỳ 30g. Sắc uống. TD: Ích khí dưỡng âm. Trị khí âm đều hư, huyết áp thấp.
+ Trả lời cách đây hơn 5 năm

Offline
Để nói là huyết áp thấp hay cao còn phụ thuộc vào vài yếu tố như tuổi tác, sức khỏe, cách sinh hoạt,... Nhưng nói chung chung thì nếu huyết áp < 60 / 40 mmHg thì khó mà gọi là bình thường được. Để dễ hình dùng việc huyết áp thấp ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào thì tạm lấy hình ảnh này để dễ thấy rõ: - Dòng máu trong người là một dòng sông với nhiều nhánh rẽ là các mạch máu. Dòng sông này đưa đồ ăn, khí oxy & các thứ cần thiết khác đến các bến bờ là các tế bào. - Huyết áp nghĩa là ÁP lực của HUYẾT (máu) trong lòng mạch máu. Ở đây ta coi như là độ cao của mực nước sông. Vậy nếu huyết áp thấp thì nghĩa là nước sông bị cạn. Vậy thì việc vận chuyển trên sông sẽ khó khăn hơn --> đồ ăn, khí oxy & các thứ cần thiết khác sẽ khó được đưa đến tế bào hơn --> tế bào sẽ nghèo đói các thứ thiết yếu này --> tế bào suy yếu. Mặt khác, rác thải như các chất độc, cặn bã, khí carbonic được sinh ra trong quá trình hoạt động của tế bào sẽ khó được nước chuyên chở đi đổ bỏ nên sẽ ứ đọng ở tế bào & gây hại cho tế bào --> tế bào suy yếu. Người có huyết áp quá thấp, ví dụ 80/60 mgHg do đó dễ mệt mỏi, chóng mặt, khó tập trung tư tưởng, mất ngủ, nhức đầu, tê tay chân… Đó là chưa kể đến nhiều chứng mệnh nghiêm trọng khi tình trạng thiếu dưỡng khí tế bào kéo dài, từ rối loạn biến dưỡng như trong bệnh tiểu đường cho đến biến chứng ác tính như ung thư! Huyết áp thấp vì thế cần được điều trị triệt để càng sớm càng tốt. Chúc bạn có một sức khỏe tốt hơn
+ Trả lời cách đây hơn 6 năm

Offline
Chứng huyết áp thấp bất kỳ do nguyên nhân nào, theo YHCT, đều thuộc chứng hư. Nhẹ thì do Tâm dương bất túc, Tỳ khí suy nhược. Nặng thì thuộc thể Tâm Thận dương suy, vong dương, hư thoát. Trên lâm sàng thường gặp các loại sau: 1- Tâm Dương Hư Thoát: Váng đầu, hoa mắt, tinh thần mỏi mệt, buồn ngủ, ngón tay lạnh, chất lưỡi nhạt, thân lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch Hoãn, không lực hoặc Trầm Tế. Điều trị: Ôn bổ Tâm dương. Dùng bài Quế Chi Cam Thảo Thang gia vị: Nhục quế, Quế chi, Chích cam thảo đều 10g, mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 9 – 12 thang hoặc hãm với nước sôi uống như nước trà. Gia giảm: Chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô là chứng khí âm bất túc, thêm Mạch môn, Ngũ vị tử để ích khí, dưỡng âm. Khí hư, ít nói, ra mồ hôi: Bổ khí thêm Hồng sâm để bổ khí, trợ dương. Huyết áp tâm thu dưới 60mm/Hg, chân tay lạnh, có triệu chứng vong dương, bỏ Quế chi, thêm Hồng sâm, Phụ tử (chế) để hồi dương, cứu thoát. 2) Trung Khí Bất Túc, Tỳ Vị Hư Yếu: Váng đầu, hồi hộp, hơi thở ngắøn, tinh thần mệt mỏi, chân tay mềm yếu, sợ lạnh, dễ ra mồ hôi, ăn kém, ăn xong bụng đầy, chất lưỡi nhợt, rêu trắng nhuận, mạch Hoãn, vô lực. Điều trị: Bổ trung, ích khí, kiện Tỳ Vị. Dùng bài Hương Sa Lục Quân Thang gia giảm (Đảng sâm 8g, Bạch truật 10g, Bạch linh 10g, Đương quy 12g, Hoàng kỳ 12g, Bạch thược 12g, Chỉ thực 8g, Trần bì 8g, Mộc hương 6g, Sa nhân 6g, Quế chi 6g, Chích thảo 4g, Đại táo 12g, Gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang. 3) Tỳ Thận Dương Hư: Váng đầu, ù tai, mất ngủ, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ăn kém, đau lưng, mỏi gối, chân tay lạnh, sợ lạnh hoặc di tinh, liệt dương, tiểu đêm, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch Trầm Nhược. Điều trị: Ôn bổ Tỳ Thận dương. Dùng bài Chân Vũ Thang gia vị: Đảng sâm 12g, Chế phụ tử 6 - 8g (sắc trước), Bạch truật 12g, Bạch thược 12g, Bạch linh 12g, Quế nhục 6g, Câu kỷ tử 12g, Liên nhục 12g, Bá tử nhân 12g, Ích trí nhân 10g, Toan táo nhân (sao) 20g, Dạgiao đằng 12g, Gừng tươi 3 lát, sắc uống. 4) Khí Âm Lưỡng Hư: Đau đầu, chóng mặt, khát, họng khô, lưỡi thon đỏ, ít rêu, khô, mạch Tế Sác . Điều trị: Ích khí, dưỡng âm. Dùng bài Sinh Mạch Tán gia vị: Tây dương sâm 20g, Mạch môn 16g, Ngũ vị tử 4g, Hoàng tinh 12g, sắc uống. Những Bài Thuốc Kinh Nghiệm + Quế Cam Trà (Vương Hưng Quốc, tỉnh Sơn Đông, Sở Nghiên cứu trung y Tế Ninh). Quế chi, Cam thảo đều 9g, Quế tâm 3g, ngày 1 gói, hãm nước sôi uống. Liệu trình 50 ngày. - Kết quả lâm sàng: Dùng trị 48 ca huyết áp dưới 86/60mmhg, có 36 ca huyết áp lên trên 100v70mm/Hg, 8 ca huyết áp ổn định mức 90/60mm\Hg, 4 ca không kết quả, tỉ lệ kết quả 91,66%. + Quế Chi Cam Phụ Thang (Dương Vạn Lâm, tỉnh Hắc Long Giang Trung quốc): Quế chi, Cam thảo, Xuyên phụ tử đều 15g, ngày 1 thang, hãm nước sôi uống thay trà. - Kết quả lâm sàng: Đã dùng trị 38 ca, thường sau khi dùng 4 - 12 thang, huyết áp lên với mức độ khác nhau. Trước khi dùng thuốc, huyết áp bình quân 90 - 80/70 – 50mm\Hg, sau điều trị huyết áp lên bình quân 110,5/68,5mm\hg. 85% bệnh nhân huyết áp được củng cố. - Ghi chú: Lúc dùng thuốc bệnh nhân ngủ kém thêm Dạgiao đằng 50 - 70g. Trường hợp nặng có thể thêm Hồng sâm 15 - 25g, Phụ tử tăng lên đến 30g, sắc trước 1 giờ. Trước khi dùng bài này tác giả đã dùng các bài ‘Bổ Trung Ích Khí Thang, Qui Tỳ Thang’, nhưng kết quả không rõ rệt. + Thục Địa Hoàng Kỳ Thang (Vương Triệu Khuê, Hà Bắc): Thục địa 24g, Sơn dược 24g, Đơn bì, Trạch tả, Phục linh, Mạch môn, Ngũ vị tử đều 10g, Sơn thù 15g, Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm 6g (Đảng sâm 12g) sắc uống. Biện chứng gia giảm: Khí hư rõ dùng Hoàng kỳ 20 - 30g; Khí âm lưỡng hư, thay Nhân sâm bằng Thái tử sâm 20g; Huyết hư thêm Đương qui; Váng đầu nặng thêm Cúc hoa, Tang diệp; Âm hư hỏa vượng thêm Hoàng bá, Tri mẫu; Kèm thấp, trọng dụng Phục linh; Lưng gối nhức mỏi, chân sợ lạnh thêm Phụ tử, Nhục quế. Kết quả lâm sàng: Đã dùng trị 31 ca, kết quả tốt (huyết áp hồi phục lên 120/80mmHg) 21 ca, tỷ lệ 67,7%, có kết quả (huyết áp hồi phục trên 90/60mm\hg) 10 ca (32,3%. Lượng thuốc uống nhiều nhất là từ 8 đến 20 thang, ít nhất 8 thang. + Trương Thị Thăng Áp Thang (Trương Liên Ba, tỉnh Giang Tô): Đảng sâm 12g, Hoàng tinh 12g, Nhục quế 10g, Đại táo 10 quả, Cam thảo 6g. Sắc uống. 15 ngày là một liệu trình. Kết quả lâm sàng: Đã trị 30 ca liên tục 1 liệu trình, hầu hết trở lại bình thường, huyết áp trở lại bình thường 15 ca. Uống thuốc 2 liệu trình, triệu chứng bệnh hết 18 ca, còn 2 ca không kiên trì chữa bệnh. + Thăng Áp Thang (Y Học Văn Tuyển 1988 (1): Quế chi, Nhục quế đều 30g, Cam thảo 15g. Sắc uống. TD: Trợ dương thăng áp. Trị huyết áp thấp. Thường uống 2-3 thang là huyết áp có thể tăng lên, phục hồi lại như bình thường. + Phù Chính Thăng Áp Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Nhân sâm 10g (hoặc Nam Ngũ gia bì 15g), Mạch môn, Chích thảo, Trần bì, A giao đều 15g, Ngũ vị tử 12g, Sinh địa 20 ~ 30g, Chỉ xác 10g, Hoàng kỳ 30g. Sắc uống. TD: Ích khí dưỡng âm. Trị khí âm đều hư, huyết áp thấp.
+ Trả lời cách đây hơn 5 năm
Trả lời câu hỏi
Chú ý: Nội dung gửi lên bắt buộc viết có dấu. Nội dung viết không có dấu, sai chính tả nhiều sẽ bị xem vi phạm luật sử dụng của Hỏi & Đáp
Những câu trả lời như "bó tay", "không biết" sẽ bị xóa.
Những câu hỏi cùng danh mục  Y tế và Sức khỏe  Sức khỏe khác
ĐĂNG NHẬP
Loading ...